Kho tài liệu miễn phí
Người thầy của bản
AT - Những con đường ồn ào nơi phố thị khác hẳn với những nẻo đường hoang vắng vùng sơn cước quê tôi. Mỗi lần dạo bước trên con phố dài tôi lại thấy nhớ lắm con đường đất nằm vắt qua những quả đồi tôi thường đi học lúc nhỏ.
Hạ sang, cái nắng gay gắt của mùa hạ kéo tôi về với những ngày tuổi thơ rong ruổi trên con đường mòn từ bản đến trung tâm xã học lớp vỡ lòng.
Vì nhà quá xa trung tâm của xã, những đứa trẻ sống trong bản như chúng tôi ít được đi học. Bố mẹ lo lắng một phần vì đường xa và lại cái chữ lúc bấy giờ cũng chưa thực sự được chú trọng. Trưởng bản nói đến cái chữ cho bọn con cháu của bản là mọi người gạt đi không nhắc đến. Tôi sẽ không được biết đến cái chữ gọi là phổ thông của người Việt nếu như không có thầy.
Lần đầu tiên tôi gặp thầy cũng vào một ngày mùa hè bên bờ suối phía khe rừng. Những giọt mồ hôi túa trên trán, rơi xuống gò má thầy, lưng áo đầm đìa. Trên lưng thầy vác chiếc ba lô xanh như thể vừa bước ra từ chiến trường, bởi cái màu bạc phếch và cái mùi khét của thuốc súng. "Chú bộ đội". Tôi rụt rè chào, thầy cười nhìn tôi, ánh mắt thầy sáng và rất sâu mà đến tận bây giờ tôi vẫn không thể quên. Tôi còn nhớ giọng nói ấm và vang của thầy, thầy hỏi đường đến bản Lang. Mừng rỡ vì thầy nhắc đến bản của tôi. Tôi nhảy chân sáo qua những quả đồi, bỏ lại thầy sau lưng. Khuôn mặt mảnh dẻ của thầy ướt đẫm, trông không phải người lao động như người dân quê tôi.
Thầy cố gắng theo chân tôi để khỏi lạc, tôi cười khúc khích. Ngang đường còn tranh thủ lấy cái súng cao su nhắm lên những cành cây bắn chim chơ ria. Thầy giật thót khi chú chim trúng đạn sỏi rơi xuống chân thầy, tôi bật cười lanh lảnh, tiếng cười vang núi rừng, khuôn mặt thầy giãn ra, thầy bước đến cốc cho tôi một cái đau điếng.
Bản tôi nằm nép mình dưới một chân núi, đi ra đường to phải qua bốn ngọn đồi. Người dân chỉ bước đến con đường đó mỗi lần có phiên chợ. Con đường vắng người qua lại, cây cối lan ra mặt đường phải dùng mác phạt đi mới qua nổi. Tôi dẫn thầy về đến bản thì trời cũng sẩm tối. "Chú bộ đội! nhà trưởng bản đó” - tôi nói lớn, kéo thầy qua nói chuyện với trưởng bản rồi lại nhảy chân sáo ra về.
Mẹ tôi bảo ngày mai cả bản ra dựng lán học. Tôi ngỡ ngàng học là cái gì. Mẹ bảo học cái chữ của người Kinh. Chữ làm gì nhỉ? Tôi ngờ nghệch hỏi mẹ. Mẹ bảo hỏi thầy giáo người Kinh.
Thầy giáo người Kinh là chú bộ đội mà tôi gặp hôm qua, nhìn thấy tôi thầy bước đến cốc cho tôi cái nữa vào trán rồi hỏi: "Nhóc biết chữ không?". Chữ là cái gì nhỉ? Tôi thầm nghĩ, chắc ánh mắt tôi lúc đó mang hình dấu hỏi hay sao mà thầy mỉm cười không hỏi nữa, thầy nói "Để thầy dạy". Lần đầu tiên trong đầu tôi có danh từ "thầy". Tôi mơ hồ về nó và thầy bảo "Con được gọi là học sinh". Đầu tôi văng vẳng, miệng tôi lẩm bẩm "thầy, học sinh... học sinh, thầy...".
Thầy vẫn giữ nụ cười ấy và đưa cho tôi những cành cọ khô. Mái trường đầu tiên của tôi được dựng bằng những tấm nứa mà dân bản tích góp được. Mái lợp bằng lá cọ già mà bọn trẻ con chúng tôi háo hức chạy lên đồi chọn những cành già nhất, tán rộng nhất đem về phơi. Khoảng hai tuần thì ngôi trường đầu tiên của tôi hoàn thành. Dân làng cũng dựng cho thầy một cái lán ngay bên cạnh cho thầy ở tiện việc đi lại.
Mẹ may cho tôi cái cặp bằng túi bao rứa trông không bằng bao cám cò bây giờ, vậy mà lúc đó với tôi nó đẹp biết nhường nào. Mẹ khâu hai cái dây hai bên cho tôi đeo lên vai, tôi thấy mình lớn hẳn lên và oai lắm. Ngày đầu tiên đi học, cảm giác khó tả vừa sướng, vừa lo. Thầy dạy chúng tôi bài hát đầu tiên lấy khí thế, những ngôn ngữ chữ nghĩa cứ nhảy lung tung trong đầu. Không quen với nề nếp nhưng ngày đầu tiên ấy bọn trẻ con bản tôi đến lớp rất đúng giờ. Có đứa còn hồi hộp dậy từ lúc ông mặt trời chưa mọc.
Những nét chữ nguệch ngoạc đầu tiên trên tờ giấy trắng phau. Thầy đến khổ khi cầm tay từng đứa một dạy chữ. Nhìn những giọt mồ hôi của thầy lấm tấm, thỉnh thoảng có giọt vô tình rơi trên giấy trắng học sinh mà đôi mắt thầy vẫn ngời sáng, giọng thầy vẫn ấm vang: "O tròn như quả trứng gà. Ô thời đội mũ, Ơ thì thêm râu...". Bọn tôi cười khúc khích khoái chí.
Bọn trẻ bản tôi hiếu động lắm. Trên đường đi học cũng vẫn còn rủ nhau trèo lên cây hái quả rừng, bắn chim. Có lần đang đi học thấy cá quẫy bên suối, cả bọn rủ nhau nhảy xuống suối bắt cá. Đến lúc nhận ra là đã muộn giờ học thì chao ôi quần áo ướt hết. Đứng trước cửa lớp thầy nhìn chúng tôi giận dữ. Chưa bao giờ tôi thấy thầy giận như thế. Thầy bắt chúng tôi đi xuống cuối lớp rồi úp mặt vào vách nứa.
Thằng Ban quần vẫn xắn ống thấp ống cao, lầm lũi bước đến bên thầy: "Thầy ơi, con cá này của thầy đó. Thầy càng ngày càng gầy đấy". Thầy đứng lặng, chẳng đứa nào bảo đứa nào mà cả bọn òa khóc. Thầy bước ra ngoài không nói một lời gì với đám học trò còn đang ngơ ngác. Lát sau thầy quay lại với chậu nước to đùng trên tay. Thầy gọi chúng tôi lại, rửa mặt, chân tay cho từng đứa một. Thầy tận tụy như một người mẹ.
Thầy tôi còn trẻ lắm. Mãi sau này tôi mới biết thầy vừa hết hạn nghĩa vụ quân sự và xin về đây dạy chữ cho những bản nghèo. Thầy ở với bản tôi gần một năm mà chẳng thấy thầy bảo về thăm quê, cũng không thấy người thân nào lên thăm thầy cả. Trưởng bản bảo thầy mồ côi từ nhỏ, đám học trò vì thế mà chăm học hơn. Đứa nào cũng nghĩ rằng đừng để thầy buồn thêm nữa. Buổi tối rảnh rỗi bọn tôi hay đến chơi với thầy.
Hôm thì thầy luyện chữ cho chúng tôi dưới ánh đèn dầu, hôm thầy ngồi đánh đàn cho cả bọn hát, thầy không quên dạy cho chúng tôi những bài hát mới mà các bạn người Kinh hay hát.
Được hơn một năm, xã có quy hoạch các trường trong bản về lập thành một trường mới quy mô lớn hơn. Chúng tôi sẽ được học trong nhà xây, có mái ngói đỏ tươi, có bảng đen. Giữa sân trường có một cột cờ lớn và biết đến tiếng trống trường. Thầy được cấp một ngôi nhà nhỏ ở khu tập thể giáo viên trong trường. Thầy dọn về đó bản tôi buồn hẳn.
Tuy mỗi ngày đều được gặp thầy nhưng bọn tôi vẫn thấy buồn. Chúng tôi phải vượt một quãng đường xa hơn để đến trường, hôm nào đến lớp cũng lấm lem. Chúng tôi chỉ học buổi sáng, dậy từ mờ sáng vượt qua sườn đồi thì cũng là lúc tiếng trống trường đã điểm. Có hôm chúng tôi đến lớp quần áo xộc xệch, chân tay đầy bùn đất vì trời mưa đường bẩn, lại có bận đi được nửa đường thì bị ngã sõng soài mà không nỡ quay về.
Chúng tôi bất ngờ khi thấy thầy đeo ba lô trên chiếc xe đạp thồ xuôi về phía bản. Chiếc xe mà lâu nay thầy tích góp những đồng lương ít ỏi mới mua được. Thầy cười bảo thầy là tài xế đưa chúng tôi đi học. Chúng tôi mừng rơi nước mắt. Thầy về với bản rồi, ai cũng có niềm vui khôn tả. Cái xe thồ của thầy thật đặc biệt. Thầy buộc hai cái sọt to hai bên xe để chúng tôi đứng vào đó. Kể từ đó dù nắng hay mưa mấy thầy trò vẫn vượt qua những con đường mòn đến trường.
Còn nhớ trời mưa to đất trên đồi lở xuống đường đi, thầy trò cùng nhau đẩy xe nhọc lắm mới vượt qua được quãng đường đầy bùn đất mà vẫn vui. Nhìn những khuôn mặt lấm lem bùn đất của chúng tôi, thầy cười trìu mến. Còn những buổi trưa hè nắng gắt thấy mồ hôi thấm đẫm áo thầy, chúng tôi nhảy xuống, thầy nói sao cũng nhất định không leo lên nữa. Vậy là cả thầy trò dắt xe đi bộ về bản. Nhìn thầy lúc đó có nước da khỏe mạnh của dân bản, tay thầy có những vết chai mà trước đây tôi chưa từng thấy.
Cho đến tận bây giờ tôi vẫn không thể quên được hình dáng của thầy. Đối với những đứa trẻ lớn lên từ bản nghèo nơi đây có lẽ không đứa nào có thể quên thầy. Giờ đây những đứa học trò của thầy đã đủ cánh để bước ra khỏi cái bản nhỏ ấy, nhưng thầy vẫn là hồi ức để chúng tôi quay về. Nhớ lắm những giọt mồ hôi thầy rơi, những ánh mắt buồn khi chúng tôi nghịch, nhớ cả ánh mắt hạnh phúc khi tôi có giấy báo đậu đại học...
Tất cả những hình ảnh của thầy tôi không sao quên được. Học trò của thầy có đứa ở lại bản, có đứa ra thủ đô học, có đứa đi làm xa ở mọi miền đất nước, nhưng khi nào có dịp liên lạc với nhau, câu đầu tiên chúng hỏi nhau là thầy thế nào! Từ thầy hơn lúc nào hết gần gũi, thân thương lắm. Thầy ơi! Có thể nào quên được bóng dáng thân thương ấy!
+++++++Trần Quốc Thành @ 07:17 18/11/2009
Số lượt xem: 3882
- Về thăm trường cũ (16/11/09)
- Thầy khai tâm (16/11/09)
- Nhớ Nguyễn Hoàng (16/11/09)
- Ngôi trường mùa nước nổi (16/11/09)
- Kẻ tìm nỗi nhớ (16/11/09)